This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Tư, 13 tháng 7, 2016

Địa điểm du lịch Thái Nguyên hay

Những địa điểm du lịch Thái Nguyên có thể rất nhiều du khách chưa biết. Dưới đây là top 10 địa điểm du lịch nơi đây khiến du khách ngỡ ngàng. Đây là một trong các địa điểm du lịch trong nước thu hút nhiều người.
Hồ Núi Cốc
Hồ ở phía Nam huyện Đại Từ, cách trung tâm thành phố Thái Nguyên khoảng 15 km về phía Tây, là một thắng cảnh thiên nhiên gắn liền với câu chuyện tình huyền thoại về Chàng Cốc nàng Công. Tại đây, có nhiều điểm vui chơi phục vụ du khách: Công viên Cá sấu, Công viên nước, sân khấu nhạc nước, Huyền thoại cung, Thế giới cổ tích, Âm Phủ, Chùa thiêng thác vàng. Giai điệu mượt mà Huyền thoại Hồ Núi Cốc
Người dân địa phương còn gọi là thác Bẩy Tầng, thuộc xóm Tỉn Keo, xã Phú Đình, huyện Định Hóa. Thác ở không xa các di tích Tỉn Keo, đồi Phong Tướng, lán Khuôn Tát, nhà trưng bày ATK Định Hóa, nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại ATK Định Hóa.
Nơi đầu nguồn suối Tỉn Keo, giữa đỉnh núi nhiều cây cổ thụ, một dòng nước ào ào đổ xuống các bậc đá tạo nên dòng thác bảy tầng. Tầng thác dưới cùng khoảng 12 mét đổ vào một vũng lớn mỗi chiều gần 10m, sâu tới 2 mét, nước trong vắt tạo ra một noi bơi lội lý tưởng. Ngay giữa chiều hè, chỉ cần vào cách chân thác chừng 50 mét ta đã có cảm giác mát lạnh. Thác Khuôn Tát, khu vực đầu nguồn suối Tỉn Keo, thật là nơi lý tưởng để du ngoạn, bơi lội, cắm trại dã ngoại. Thác Khuôn Tát đã được xếp hạng di tích danh thắng cấp Quốc gia năm 2002
Động Linh Sơn
Động ở núi Hột, còn gọi là động Hang Dơi, thuộc xóm Núi Hột, xã Linh Sơn, huyện Đồng Hỷ, cách trung tâm thành phố Thái Nguyên khoảng 4 km về phía đông bắc, gồm có hai hang đá rộng lớn: hang Thiên và hang Địa.
Trong động có nhiều khối nhũ các cỡ giống hình tượng phật, mẹ bồng con, voi, hổ, đôi rồng uốn lượn rất đẹp. Từ xưa, dân chúng đã thờ phật trong động. Ngay cửa động, còn một tấm bia chữ Hán khắc vào vách đá (bia ma nhai), có tựa đề “Trùng tu Linh Sơn động” niên đại thời Lê. Thắng cảnh động Linh Sơn đã được xếp hạng di tích cấp Quốc gia năm 1999
Chùa Hang
Chùa Hang nằm ngay trung tâm thị trấn Chùa Hang, huyện Đồng Hỷ, cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 2 km bên đường quốc lộ 1B, Núi Chùa Hang, xưa gọi là núi đá Hóa Trung, núi Long Tuyền, trong núi có hang động. Động Chùa Hang còn gọi là động Tiên Lữ, có nhiều nhũ đá đẹp, trong động có thế phật. Xưa nay, Chùa Hang được xem là một thắng cảnh nổi tiếng, từng làm say đắm bao tao nhân mặc khách. Vách đá cửa động có câu đối cổ bằng chữ Hán: “Phong cảnh thiên nhiên duy đệ nhất. Danh lam nhân tạo thị vô song” (phong cảnh thiên nhiên đẹp vào bậc nhất. Danh lam do con người tạo (ra) cũng không gì sánh được). Trong vách động, còn khắc những vần thơ chữ Hán trác tuyệt của các danh sỹ Vũ Quỳnh, Đặng Nghiệm (thế kỷ XV), Cao Bá Quát (thế kỷ XIX).
Thắng cảnh Chùa Hang đã được xếp hạng di tích cấp Quốc gia năm 1999 và lễ hội chính chùa hang là 20/1 (âm lịch). Đây là địa điểm du lịch Thái nguyên nổi tiếng.
Suối Mỏ Gà- Hang Phượng Hoàng
Ngay chân núi Phượng Hoàng, suối Mỏ Gà nước chảy giữa lòng hang trong vắt, mát lạnh. Hang khá rộng và rất sâu, cửa hang nước đổ xuống tạo thành một thác nước tung bọt trắng xóa giữa những khối đá lớn rồi đổ xuống cánh đồng Phú Thượng tạo nên cảnh quan sơn thủy hữu tình.
Hang Phượng Hoàng – Suối Mỏ Gà là một danh thắng nổi tiếng, đã được xếp hạng cấp quốc gia. Danh thắng nằm bên trái quốc lộ 1B Thái Nguyên – Lạng Sơn (kilomet 42) trên một núi đá lớn của dãy Phượng Hoàng, thuộc xã Phú Thượng, huyện Võ Nhai.
Nằm ở độ cao khoảng gần 500m so với chân núi, Phượng Hoàng là một hang động casto rộng lớn cảnh đẹp kỳ lạ. Trong hang không khí trong lành, mát rượi. Đáy hang có nước trong veo, lại có những bờ cát trắng mịn ven bờ nước. Khắp lòng hang, trên các vách hang, không biết bao nhiêu những nhũ đá được thiên nhiên tạo thành hình thù những cột chống trời, mẹ bồng con, vũ nữ, voi chầu, kỳ lân, móng vuốt đại bàng, khối linga…rất đẹp. Và sừng sững giữa lòng hang là khối nhũ đá khổng lồ hình chim phượng hoàng trong tư thế giương cánh oai hùng. Phải chăng khối nhũ đá là duyên cớ để người dân gọi là hang Phượng Hoàng và thêu dệt nên câu chuyện cổ tích về mối tình chung thủy “hóa đá” của đôi chim phượng hoàng thuở ngày xửa ngày xưa.
Thác Nặm Rứt

Thác Nặm Rứt – nghĩa tiếng Tày là thác Mưa Rơi, nằm cách trung tâm thành phố Thái Nguyên khoảng 35 km, trên đường từ La Hiên (kilomet Quốc lộ 1B) đi vào Khu du lịch khảo cổ Thần Sa.
Vào mùa mưa, giữa vùng núi non hùng vĩ, trên đỉnh một núi đá vôi có nhiều cây rừng, những dòng nước trắng xóa ào ào đổ xuống dòng sông Nghinh Tường tạo nên thác lớn. Nhưng mùa khô, nước chỉ dùng để ngắm qua những mảng rêu trên vách đá, rơi xuống dòng sông xanh tạo sự lấp lánh trên khắp mặt sông dưới ánh nắng vàng.
Hồ Vai Miếu
Hồ Vai Miễu nằm dưới chân dãy núi Tam Đảo, có diện tích mặt nước 39,4 ha thuộc xã Ký Phú, huyện Đại Từ. Mặt nước hồ xanh, có nhiều đảo đẹp, cảnh quan thiên nhiên hoang sơ, hùng vĩ, lại cách không xa khu di tích lịch sử cấp quốc gia Núi Văn – Núi Võ nên hồ Vai Miễu có nhiều lợi thế phát triển du lịch.
Hồ Suối Lạnh
Nằm dưới chân núi Hàm Lợn của dãy Tam Đảo, thuộc xã Thành Công, huyện Phổ Yên tiếp giáp với huyện Sóc Sơn (Hà Nội) với diện tích 48,8ha hồ Suối Lạnh có lợi thế để phát triển du lịch. Đặc biệt bên hồ có suối nước trong, có đồi, có núi, có rừng cây tạo cảnh quan non xanh nước biếc thu hút khách gần xa.
Cửa Tử – du lịch thái nguyên
Suối Cửa Tử cách thị trấn Đại Từ chừng 15 km xã Hoàng Nông nằm cạnh sườn Đông của dãy Tam Đảo. Đi gần hết đường nhựa, rẽ xuống một đường đất khá khó đi khoảng hơn 1 km là đến lối vào Cửa Tử. Gửi xe tại một nhà dân, đi bộ một đoạn đã thấy một dòng suối hiện ra trước mắt.
Đát Đắng
Đát đắng ở phúc yên đại từ thái nguyên, ngoài ra còn có La Tre Mỹ Yên, Đát Đắng Quân Chu Đại Từ.
Trên đây là những địa điểm du lịch Thái Nguyên hữu ích cho các bạn có thể phượt vào các dip lễ và cuối tuần.

@Dulichamthuc.net(Sưu tầm)

Thứ Hai, 14 tháng 3, 2016

Đặc sản nổi tiếng Thái Bình bạn có biết

Dưới đây là những đặc sản nổi tiếng Thái Bình bạn có biết?
Nhắc tới Thái Bình, mọi người không thể quên vùng đất của chị Hai năm tấn. Vùng đất nơi đây là tỉnh duy nhất không có đồi núi. Chính bởi những điều duy nhất đó đã tạo nênđặc sản Thái Bình nổi tiếng. Dưới đây là 10 món ăn ngon bạn cần biết.
1. Bánh cáy làng Nguyễn
Bánh cáy đặc sản đất Thái Bình là thức bánh dân giã được làm từ đôi bàn tay khéo léo của người dân làng Nguyễn, xã Nguyên Xá, huyện Đông Hưng. Loại bánh này ngoài Thái Bình không thấy nơi nào có. Xưa kia đây là sản vật của người dân Thái Bình dùng để tiến vua. Nét độc đáo của bánh cáy làng Nguyễn chính là sự kết hợp các nguyên liệu từ hoa màu trong đời sống, tạo nên một thứ bánh dẻo, thơm và có hương vị đặc trưng.
mon-an-dac-san-thai-binh-10
2. Canh cá Quỳnh Côi
Nổi tiếng bởi sự đơn giản, không cần nhiều nguyên liệu chế biến nhưng vẫn tạo hương vị riêng, canh cá Quỳnh Côi được xem là niềm tự hào của người Thái Bình. Bát canh cá thay vì sử dụng bún, phở, lại được người Thái Bình chọn riêng cho loại thực phẩm sợi mềm ngọt, mịn, dai – bánh đa, tạo dấu ấn cho canh cá Quỳnh Côi mà không món ăn nào khác có được.
mon-an-dac-san-thai-binh-1
3. Nem chạo Vị Thủy
Nem chạo hay còn gọi là nem sống là món ăn không thể thiếu được trong ngày giỗ hay cưới hỏi ở làng Vị Thủy, huyện Thái Thụy, Thái Bình. Chỉ những người đầu bếp có kinh nghiệm mới được tự tay chế biến để người ăn không bị đau bụng.
Khác với nem ở nhiều vùng miền trên cả nước, nem ở đây được làm từ thịt và xương sống lợn băm nhuyễn. Thịt lợn xẻ ra còn nóng hổi không dùng nước lã để rửa. Người ta lấy phần thịt mông và phần xương sống băm nhuyễn. Sau hơn 1 tiếng, thịt, xương và tủy hòa cùng nhau tạo ra độ dính, dẻo.
mon-an-dac-san-thai-binh-9
Nét hấp dẫn trong món nem chạo là bì luộc thái mỏng và thính gạo rang. Bì lợn được cạo sạch lông với nước sôi rồi thái nhỏ. Sau đó các nguyên liệu được trộn cùng nước mắm ngon, tỏi thái mỏng, ớt tươi, mỳ chính và thính gạo rang. Ở khâu cuối cùng, người thợ sẽ nằm nem thành từng quả nhỏ vừa đủ khéo để thịt không rơi ra ngoài.
4. Gỏi nhệch
Nhệch là tên một loại cá có hình dáng tương tự như lươn. Người ta cũng dùng tro để làm sạch nhớt trên mình nó rồi mới làm thành món ăn như kho, nấu canh chua, om… Đặc biệt là gỏi nhệch. Sau khi sơ chế, cá được cắt lát mỏng, trộn thính. Phần da cũng cắt thành miếng chiên giòn. Còn xương cá được giã nhuyễn, nấu thành thứ nước chấm có tên đặc biệt không kém tên cá – chẻo. Chẻo nấu xong, pha với gừng, tỏi, ớt, hạt tiêu, sả băm nhỏ.
mon-an-dac-san-thai-binh-3
Gỏi nhệch ăn kèm rau chanh, lá sung, rau húng, tía tô. Cứ cầm lá sung gắp miếng gỏi, cho thêm tí da, cuốn lại chặt tay rồi chấm vào chẻo là đủ thấy món ăn dân giã đến độ nào. Vị bùi bùi của lá sung cùng với thịt cá ngon, béo béo da, thơm lừng thính từ gạo rang, quyện đậm đà với chẻo cay cay nồng nồng khiến gỏi nhệch ngày càng được ưa chuộng.
5. Bún bung
Cùng với canh cá và bún cá, bún bung (bún hoa chuối) là món ăn rất được ưa thích của người Thái Bình. Vị chát của hoa chuối, béo ngậy của thịt, vị thơm của lá xương sông sẽ khiến bạn nhớ mãi.
mon-an-dac-san-thai-binh-4
Bún bung thường có dọc mùng, mọc, chân giò… từ lâu là món ăn ưa thích của nhiều người, phổ biến ở một vài tỉnh phía bắc. Nhưng khác với các nơi, bún bung Thái Bình không ăn kèm dọc mùng mà thay bằng hoa chuối. Đây là một trong những món ăn nổi tiếng và được nhiều người Thái Bình ưa thích.
6. Ổi Bo
Dù giờ đây, để nếm được ổi Bo gốc cũng không đơn giản nhưng loại trái cây này vẫn nức tiếng gần xa. Ổi Bo nhỏ thôi, chừng cỡ nắm tay nhưng rốn bé tí lại ngon như bao nhiêu tinh túy của đất đều chắt lọc, giữ riêng cho mình. Có điều đặc biệt là ổi Bo trồng ở Thái Bình mới thơm, giòn và ẩn chứa các tầng vị khác nhau: chát, chua dịu rồi mới đến ngọt mát như vậy. Cùng giống mà đem trồng nơi địa phương khác cũng không thể có đúng vị ổi Bo.
mon-an-dac-san-thai-binh-2
Tiếc rằng ổi Bo năng suất và hiệu quả kinh tế không cao nên diện tích trồng đã bị thu hẹp đi nhiều, khách muốn tận hưởng vị riêng cũng khó tìm dù đứng ngay trên quê gốc của giống cây đặc sản.
7. Bánh gai Đại Đồng
Làng Đại Đồng – xã Tân Hòa – huyện Vũ Thư có thể được coi là quê hương của những món ăn dân dã, nhưng không kém phần độc đáo như bún ốc, bánh dẻo, bánh ú, bánh tráng, riêng bánh gai đã trở thành đặc sản. Bánh gai nơi đây đã có trên dưới 400 năm.
mon-an-dac-san-thai-binh-5
8. Nộm sứa Thái Thụy
Nộm sứa là món ăn dân dã quen thuộc xuất hiện ở nhiều vùng miền biển trên cả nước. Nhưng mỗi nơi, món ăn này lại có một “hơi thở” riêng. Người dân Thái Thụy, Thái Bình thường truyền tai nhau: “Tới Thái Thụy mà chưa thưởng thức nộm sứa coi như chưa về”. Câu mời chào quyến rũ đó khiến du khách thập phương khó lòng chối từ.
mon-an-dac-san-thai-binh-6
9. Bánh giò Bến Hiệp
Có thể nói không ngoa rằng, bánh giò Bến Hiệp (Quỳnh Phụ, Thái Bình) có thể sánh vai cùng bánh cáy làng Nguyễn, bánh gai Vũ Thư, bánh bèo Thái Thụy, bánh đúc làng Tè. Với mẫu mã, dư vị rất riêng, nó đã và đang khẳng định được giá trị, vị trí trên thị trường trong và ngoài tỉnh.
mon-an-dac-san-thai-binh-8Chẳng biết, loại bánh giò làm bằng bột tẻ ăn không thấy ngán, ăn lót dạ được, ăn thay cơm, ăn đổi bữa được, từ đời nảo đời nào truyền đến tận nay, người ta chỉ biết rằng, dạo trước, tàu thủy Hải Hà chạy ngày hai chuyến Hải Phòng-Nam Định, Nam Định-Hải Phòng khi mà Bến Hiệp lấy trả khách, bốc dỡ hàng hóa, mọi người đã rất quen mắt với cảnh nhiều phụ nữ trẻ em mang bánh giò ra bán.
10. Bánh nghệ
Chưa ở miền quê nào có loại bánh nghệ vàng ruộm, thơm bùi và dân dã như ở Thái Bình. Bánh nghệ được làm từ gạo tẻ chứ không phải là gạo nếp nên ăn nhiều không sợ bị nóng. Lại kết hợp với nghệ, nên bánh có giá trị dinh dưỡng và mùi vị rất riêng.
mon-an-dac-san-thai-binh-7
Bánh nghệ được ăn nóng rất ngon, để bánh nguội sẽ hơi khô và kém thơm hơn. Được thưởng thức những chiếc bánh nghệ khi còn nóng, nhất là trong tiết trời lạnh thì không gì thích bằng.
Chúc mọi người có dịp thưởng thức món ăn đặc sản Thái Bình.
Nguồn: Sưu tầm

Chủ Nhật, 13 tháng 3, 2016

Bánh tẻ đặc sản ngon Hà Nội

Nhắc tới bánh Tẻ mọi người nhớ ngay ra đặc sản Hà Nội. Bánh Tẻ được dùng trong các ngày hội, đám cưới, đám hỏi,…
Sơn Tây bình yên với thành cổ. Mọi thứ có vẻ u trầm, không ồ ạt thương mại hóa. Ngay cả các đặc sản cũng không hẳn mời chào du khách. Nhưng mọi thứ vẫn cần khám phá.
Khách du lịch đến thị xã Sơn Tây (Hà Nội) chỉ “nhăm nhăm” thăm cho xong thành cổ rồi tìm quán ăn có các món thịt cò để ăn nhậu. Sau đó thì khách về, ồn ào và hết chuyện. Có chăng chỉ là câu chuyện về thành cổ Sơn Tây rất đẹp.
Hoặc khách sẽ đi thêm mấy cây số về lại làng đường cổ Đường Lâm. Những ấn tượng về một ngôi làng thuần Việt vẫn thiếu một hương, vị nào đó để làm nên cái hồn.
banhte1-1351661916_500x0
Người Sơn Tây hiền hòa, nhẹ nhàng và hơi có nét u buồn. Cái nết ăn, nết ở của họ cũng có gì đó nhẹ nhàng, trầm trầm. Người nơi khác ăn cỗ phải có bánh chưng, bánh dầy, xôi trên mâm cỗ. Nhưng người Sơn Tây lại ăn bánh tẻ. Chiếc bánh tẻ ở đây nhỏ nhỏ, thon thon, nhân thịt nạc, mộc nhĩ, ăn không biết ngán.
Một người bạn ở gần thành cổ dẫn tôi đến nhà vợ chồng chị Hoàng Thị Vân và anh Hoàng Xuân Hùng (phường Phú Thịnh, thị xã Sơn Tây) để đặt bánh tẻ làm quà. Vừa vào đến cổng, mùi thơm đặc trưng của lá bánh đã tỏa ra nghi ngút. Ngoài trời có nóng nhưng trong ngôi nhà cổ ấy có một không khí thật ấm áp. Cảm giác ấm áp thực sự rất khó cảm nhận ở nơi khác.
Mỗi ngày nhà chị làm gần 2.000 cái bánh tẻ cho những người muốn đặt làm quà, hoặc làm món ăn chính trong các đám cỗ bàn ở cả khu vực Sơn Tây.
banhte3-1351661916_500x0
Gạo làm bánh thường phải ngâm cho “ngấu”, có mùi hơi chua chua rồi mới đãi để xay bột. Xay bột xong phải nấu ở mức chưa chín hẳn. Bột dẻo, sờ tay có cảm giác dính, nhưng lại không phải thế. Cảm giác bột hết nước, trông mềm, mịn như làn da của thiếu nữ đang thời xuân thì.
Bánh tẻ những nơi khác gói bằng lá chuối, gói khum khum thể hiện tính âm dương và phát triển của vũ trụ. Nhưng bánh Sơn Tây lại được gói bằng lá dong, nhân trải đều, dài, theo dọc sống lá. Bánh ở nơi khác thường có kiểu: ruột ít nhiều lá, nhưng bánh tẻ Sơn tây thì ngược lại: một lượt lá dong tươi bên trong để tạo mùi thơm đặc trưng, 2 lượt lá chuối bên ngoài để bánh không bị lòi ra khi hấp chín. Không lá đùm lá và ít nhân như mọi người vẫn nghĩ về bánh lá.
banhte2-1351661916_500x0
Bánh tẻ có mùi thơm của lá dong, lá chuối khô, không nhiều mùi mỡ và không có mùi hành phi hay hành tươi. Đàn ông hay đàn bà đều có thể ăn, có thể ăn chơi, ăn no, ăn bất cứ ở đâu cũng ngon.
Bánh tẻ Sơn Tây “nhất định” giấu mình với khách du lịch. Không phải lỗi tại người làm bánh, không phải lỗi chất lượng bánh, đó là vì du lịch Sơn Tây chuyển động hơi chậm. Chậm nhưng chắc. Người ta không ồ ạt kéo vào đây, nhao nhao kinh doanh bánh tẻ. Mọi thứ vẫn còn bình yên lắm.
Để mua bánh Tẻ ngon đặc sản Sơn Tây du khách có thể liên hệ gia đình chị Luyến:0168.4433.586 để được tư vấn và mua đặc sản chính gốc nơi đây.
Nguồn: vnexpress

Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2016

Địa điểm du lịch Hà Nội giá rẻ

Hà Nội là trung tâm văn hóa của thủ đô
Hà Nội là trung tâm du lịch trong nước. Nơi đây có rất nhiều di tích lịch sử và là điểm đến ưa thích của du khách trong và ngoài nước. Dưới đây là địa điểm tham quan du lịch Hà Nội giá rẻ dulichamthuc.net gửi tới bạn đọc.
  1. Hồ Hoàn Kiếm:
Đẹp như một lẵng hoa giữa lòng thành phố, hồ Hoàn Kiếm được bao quanh bởi các đường phố Đinh Tiên Hoàng, Lê Thái Tổ, Hàng Khay. Ba con phố này dài khoảng 1.800m. Mặt nước hồ là tấm gương lớn soi bóng la đà những cây cổ thụ, những rặng liễu thướt tha tóc rủ, những mái đền, chùa cổ kính, tháp cũ rêu phong, các toà nhà mới cao tầng vươn lên trời xanh.
ho hoan kiem
Trước đây hồ có tên là Lục Thủy vì sắc nước bốn mùa xanh trong. Thế kỉ XV, hồ Lục Thủy đổi tên là hồ Hoàn Kiếm (trả gươm), gọi tắt là hồ Gươm. Cái tên Hoàn Kiếm gắn liền với câu chuyện trả gươm cho rùa vàng của vua Lê Thái Tổ.
Rùa là một trong bốn vật linh (Long, ly, quy, phượng) trong tâm thức văn hoá dân gian. Giống rùa quý này vẫn còn sinh sống trong lòng hồ, hằng năm có đôi lần nhô lên mặt nước. Thật hạnh phúc cho du khách nào nhìn thấy rùa nổi trên mặt hồ.Trong hồ có hai đảo nổi. Đảo lớn là đảo Ngọc ở phía bắc hồ, gần bờ đông, có cầu Thê Húc sắc đỏ uốn cong nối ra đảo. Đảo Rùa nhỏ hơn, trên có ngọn tháp cổ ở phía nam hồ, giữa bốn bề lung linh bóng nước.Hồ Hoàn Kiếm là nơi hội tụ, điểm hẹn của du khách bốn mùa:
Mùa xuân đậm đà lễ hội truyền thống và rực rỡ sắc hoa đào.
Mùa hạ ùa ra từng cơn gió lồng lộng, quạt đi cái oi bức của phố phường râm ran tiếng ve.
Mùa thu với màn sương huyền ảo, dáng liễu mơ hồ như thực, như hư.
Mùa đông, lá vàng trải thảm, những giọt mưa phùn bay lất phất mang theo hơi lạnh.
2. Đền Ngọc Sơn:
Đền được xây dựng trên đảo Ngọc, trong hồ Hoàn Kiếm cùng với Tháp Bút, Đài Nghiên, cầu Thê Húc (cầu đậu nắng ban mai), lầu Đắc Nguyệt (lầu được trăng), đình Trấn Ba (đình chắn sóng) và đền chính hợp thành cụm di tích lịch sử kiến trúc – nghệ thuật và danh lam, thắng cảnh tiêu biểu của thủ đô.
den ngoc son
Đảo Ngọc Sơn xưa được gọi là Tượng Nhĩ (tai voi), vua Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long đặt tên là Ngọc Tượng, đến thời Trần đổi thành Ngọc Sơn. Truyền thuyết kể rằng, ở gò trong hồ đá, có các tiên nữ thường về đây múa hát. Thời vua Lê, Chúa Trịnh xây cung Khánh Thụy ở Ngọc Sơn làm nơi vui chơi. Cuối thời Lê, xây chùa Ngọc Sơn thờ Phật. Đến thời Nguyễn, chuyển thành đền thờ Văn Xương – Đế Quân, rồi lại phối thờ Lã Động Tân, Quan Đế (tức Quan Vân Trường), phật A Di Đà và đặc biệt là tướng quân Trần Hưng Đạo. Điều này thể hiện quan niệm Tam giáo đồng nguyên của người Việt.
Năm Tự Đức thứ mười tám (1865), nhà nho Nguyễn Văn Siêu đứng ra tu bổ lại đền. Đền mới sửa đắp thêm đất và xây kè đá chung quanh, xây đình Trấn Ba, bắc một cầu từ bờ đông đi vào gọi là cầu Thê Húc.
Trên núi Độc Tôn cũ, ông cho xây một tháp đá, đỉnh tháp hình ngọn bút lông, thân tháp có khắc ba chữ “Tả Thanh Thiên” (viết lên trời xanh), ngày nay thường gọi đó là Tháp Bút. Tiếp đến là một cửa cuốn gọi là Đài Nghiên, trên có đặt một cái nghiên mực bằng đá hình nửa quả đào bổ đôi theo chiều dọc, có hình ba con ếch đội. Trên nghiên có khắc một bài minh nói về công dụng của cái nghiên mực xét về phương diện triết học. Người đời sau ca ngợi là: Nhất đài Phương Đình bút.
Từ cổng ngoài đi vào có hai bức tường hai bên, một bên là bảng rồng, một bên là bảng hổ, tượng trưng cho hai bảng cao quý nêu tên những người thi đỗ, khiến cho các sĩ tử đi qua càng gắng công học hành.
Tên cầu Thê Húc nghĩa là giữ lại ánh sáng đẹp của mặt trời. Cầu Thê Húc dẫn đến cổng đền Ngọc Sơn, còn gọi là Đắc Nguyệt Lâu (lầu được trăng) dưới bóng cây đa cổ thụ, ở giữa một vùng cây cối um tùm, trông như từ dưới nước nhô lên.
Đền chính gồm hai ngôi nối liền nhau, ngôi đền thứ nhất về phía bắc thờ Trần Hưng Đạo và Văn Xương. Tượng đặt ở hậu cung trên bệ đá cao khoảng 1m, hai bên có hai cầu thang bằng đá. Tượng Văn Xương đứng, tay cầm bút. Phía nam có đình Trấn Ba (đình chắn sóng – ngụ ý là cột trụ đứng vững giữa làn sóng không lành mạnh trong nền văn hoá đương thời). Đình hình vuông có tám mái, mái hai tầng có tám cột chống đỡ, bốn cột ngoài bằng đá, bốn cột trong bằng gỗ.
Tuy là một ngôi đền kiến trúc mới, song đền Ngọc Sơn là một điển hình về không gian và tạo tác kiến trúc. Sự kết hợp giữa đền và hồ đã tạo thành một tổng thể kiến trúc Thiên – Nhân hợp nhất, tạo vẻ đẹp cổ kính, hài hoà, đăng đối cho đền và hồ, gợi nên những cảm giác chan hoà giữa con người và thiên nhiên. Đền và hồ đã trở thành những chứng tích gợi lại những hoài niệm về lịch sử dân tộc, thức tỉnh niềm tự hào chính đáng, lòng yêu nước, cũng như tâm linh, ý thức mỗi người Việt Nam trước sự trường tồn của dân tộc.
3. Tháp Hòa Phong:
Tháp đứng trên vỉa hè bên phía hồ Hoàn Kiếm đối diện với Trung tâm Ngoại vụ Bưu điện Hà Nội qua trục đường Đinh Tiên Hoàng.
Đây là di vật còn sót lại của chùa Báo Ân, còn gọi là chùa Quan Thượng, một quần thể kiến trúc Phật giáo nổi tiếng một thời. Nguyên là vào giữa thế kỷ XIX ở chỗ này và toàn thể khu vực trung tâm Bưu điện có một ngôi chùa lớn. Khuôn viên hình tám cạnh gồm hai chục nếp nhà, nhà thờ Phật, nhà thờ Mẫu, nhà in Kinh, nhà cho các sư ở, cả thảy trên một trăm gian, bên trong trang trí rất tráng lệ. Ngoài chùa là hồ sen.
Tháp Hòa Phong
Trước cửa chùa là ngọn tháp Hoà Phong. Chùa được xây dựng vào năm 1846 theo sáng kiến của Quan Thượng (chức quan đứng đầu tỉnh Hà Nội) Nguyễn Đăng Giai.
Năm 1898, cùng với đà mở mang xây dựng đường phố mới, chùa bị phá hủy, chỉ còn ngọn tháp Hòa Phong. Đây là một loại tháp hiếm có ở Hà Nội, thuộc loại tháp bốn cửa, biến dạng của Stupa (một loại hình tháp của Phật giáo Ấn Độ). Bốn mặt tầng hai có hình bát quái. Bát quái ban đầu là công cụ chỉ phương hướng, theo vũ trụ quan Trung Hoa. Tháp Hòa Phong là tổng hợp những quan niệm về vũ trụ của Phật giáo.
4. Chùa Một Cột:
Là một cụm kiến trúc gồm ngôi chùa và tòa đài xây dựng giữa hồ vuông. Cả cụm có tên là đài Liên Hoa. Đài này lâu nay quen gọi là chùa Một Cột, hình vuông, mỗi bề 3m, mái cong, dựng trên cột đá hình trụ. Cột có đường kính 1,20m; cao 4m (chưa kể phần chìm dưới đất) đỡ một hệ thống những thanh gỗ tạo thành bộ khung sườn kiên cố đỡ cho ngôi đài dựng bên trên khác nào một đóa hoa sen vươn thẳng trên khu ao hình vuông có lan can bằng gạch bao quanh. Từ bên ngoài có lối nhỏ bằng gạch đi qua ao đến một chiếc thang xinh xắn dẫn lên Phật đài. Trên cửa Phật đài có biển đề “Liên Hoa đài” (Đài hoa sen) ghi nhớ sự tích nằm mộng của vua Lý dẫn tới việc xây chùa.
Chùa Một Cột
Sử chép “Lý Thái Tông (1028 – 1054) chiêm bao thấy Phật Quan Âm ngồi trên tòa sen, vua cũng được dắt lên đó. Khi tỉnh giấc vua đem việc ấy hỏi các quan. Có người khuyên vua làm chùa, dựng cột đá ở giữa ao, làm toà sen của Phật đặt trên cột như đã thấy trong mộng. Cho các sư chạy đàn, tụng kinh cầu cho vua sống lâu, vì thế gọi là chùa Diên Hựu (kéo dài cõi phúc)”.
Việc dựng chùa và đài hoa sen tiến hành vào năm 1049. Chưa rõ ngôi chùa như thế nào, chứ qui mô Liên Hoa Đài thì một tấm bia cổ ngay từ đời Lý đã ghi “…Đào hồ Linh Chiếu, giữa hồ vọt lên một cột đá đỉnh cột nở đóa hoa sen nghìn cánh, trên sen dựng tòa điện màu xanh. Trong điện đặt pho tượng Quan Âm. Vòng quanh hồ là dãy hành lang. Lại đào ao Bích Trì, mỗi bên đều bắc cầu vòng để đi qua. Phía sân cầu đằng trước, hai bên tả hữu xây tháp lưu ly” (Bia chùa Đọi ở huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam).
Như vậy, Liên Hoa Đài thời Lý lớn hơn ngày nay nhiều, cả những bộ phận hợp thành và hình dáng cũng phong phú hơn.
Trong thực tế, cụm chùa Một Cột đã qua nhiều lần sửa chữa. Ngày 11-9-1954, trước khi rút khỏi Hà Nội tạm chiếm, quân đội thực dân Pháp đã cho nổ mìn phá huỷ Liên Hoa Đài.
5. Thành cổ Hà Nội:
Thành cổ xưa nằm trong một khuôn viên khá rộng, phía tây giáp phường Hoàng Diệu, phía đông giáp đường Nguyễn Tri Phương, phía nam giáp đường Trần Phú, phía bắc giới hạn bởi phố Phan Đình Phùng, thuộc quận Ba Đình.
Thành cổ Hà Nội
Năm 1010, vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, toà thành được xây dựng và mở rộng ở các vương triều sau. Thành Thăng Long được qui hoạch kiểu “Tam trùng thành quách” với ba vòng thành lồng nhau. Cấm thành, hay Long Phượng thành thời Lý – Trần ở trong cùng, là khu vực hoàng cung. Hoàng thành ở giữa bọc lấy khu kinh tế thị dân ở phía đông. Ngoài cùng là dải La thành hay Đại La thành. Năm 1805, nhà Nguyễn xây thành Hà Nội đã giữ lại khu vực Cấm thành làm hành cung cho vua ở mỗi khi tuần du phía bắc. Thời Pháp, khi phá thành Hà Nội, nguời Pháp cũng giữ lại khu này làm chỉ huy sở của quân đội.
Năm công trình kiến trúc cổ còn sót lại sau khi Pháp phá thành Hà nội, tính từ phía nam lên bắc gồm các hạng mục sau: Cột cờ, cửa Đoan Môn, nền điện Kính Thiên, Hậu Lâu và cửa chính Bắc Môn.
Cửa Đoan Môn là toà duy nhất còn được giữ lại trong tổng thể, bao gồm một vọng lầu có hai tầng, lầu trên tám mái, dưới gồm một lối vào mở năm cửa lớn. Phía trên cổng chính, mặt nam còn hàng chữ “Đoan Môn”. Hiện nay Đoan Môn còn tương đối nguyên vẹn.
Điện Kính Thiên, điện bị phá năm 1886 để làm toà nhà ban chỉ huy pháo binh (quân đội Pháp). Hiện chỉ còn lại những bậc thềm đá với hai hàng lan can rồng đá ở giữa, hai hàng lan can đá chạm khắc hai bên ở phía nam, phía bắc cũng có một bậc thềm trang trí rồng đá. Tam cấp ở điện Kính Thiên ở mặt nam có tất cả 10 bậc, mặt bắc có bảy bậc do những viên đá lớn ghép lại.
Hậu Lâu, còn gọi là Lầu công chúa, xây bằng gạch, phía dưới hình hộp, trên là công trình kiến trúc ba tầng. Lầu dưới có ba tầng mái, lầu trên là hai tầng mái.
Bắc Môn, có dạng hình thang mà hai bên là hình tam giác, lòng hình vòm cuốn xây bằng gạch, mép cửa kè đá hình chữ nhật, diềm trên bằng đá trang trí nền cánh sen. Phía bắc cửa có tấm biển đá viết chữ Hán “Chính Bắc Môn”. Bên cạnh phía phải cũng gắn một tấm biển đá khắc ngày 25-4-1882 và hai vết đạn đại bác – dấu vết của cuộc chiến tranh với Pháp. Cửa thành vẫn còn, Vọng Lâu ở trên nền cổng thành đã bị phá. Thành phố đã làm lại Vọng Lâu để khôi phục lại vẻ đường bệ, chững chạc vốn có của nó.
Năm điểm di tích trên tuy quy mô kiến trúc không lớn, song cùng với những di tích còn nằm lại dưới lòng đất minh chứng về một trung tâm chính trị, kinh đô của đất nước suốt gần nghìn năm lịch sử.
Ở phía nam thành cổ Hà Nội, còn lưu lại một phần kiến trúc của trường đại học đầu tiên ở Việt Nam: Văn Miếu – Quốc Tử Giám khởi dựng vào đầu thế kỉ XI dưới thời nhà Lý.
6. Cột Cờ:
Cột cờ là một trong những công trình kiến trúc thuộc khu vực thành cổ Hà Nội còn nguyên vẹn.
Cột Cờ
Cột cờ nằm trong khuôn viên Bảo tàng Quân đội, đường Điện Biên Phủ, phường Điện Biên, quận Ba Đình.
Xây dựng năm 1812 dưới triều vua Gia Long, cột cờ gồm ba tầng bệ, thân cột và hệ thống cầu thang xoáy bên trong. Ba tầng dưới là ba khối vuông xây chồng lên nhau từ to đến nhỏ, trên cùng là thân cột cao chừng 20 m, hình lục lăng, có trổ các cửa hoa nhỏ để tạo không khí và ánh sáng cho bên trong. Đỉnh cột hình bát giác, có trụ để cắm cờ, trèo lên đỉnh cao nhất sẽ bao quát được toàn bộ khu vực xung quanh.
Trên đây là 6 địa điểm du lịch Hà Nội với chi phí rẻ cho khách du lịch.

Nguồn: Tổng hợp